Tôi copy lại thread này bên VietPhD hy vọng các bác tiếp tục chia sẽ các "strategies to build good profile" để có thể tìm được công việc tốt sau khi xong PhD. Các bạn đã xong PhD hoặc senior PhD students là những người có nhiều kinh nghiệm về việc này nên nếu chia sẽ thì sẽ có lợi cho các bạn junior PhD rất nhiều. Mình bắt đầu bằng việc đưa ra vài comments (chỉ có thế apply được cho engineering ở North American là chính ví nó dựa vào case của mình). Mời các bạn các ngành khác và ở tất cả các nơi chia sẽ thêm nhé.
Profile
- Một trong những điểm quan trọng nhất trong profile theo mình là publication. Rõ ràng best situation sẽ là "have a good number of publication of high quality in an active area (high job demand)". Nhưng trong nhiều trường hợp ko dễ để đạt được điều này. Case mà rất nhiều bạn có thể gặp phải là: học trường rank thấp và làm với unknown Prof (nếu đi trực tiếp từ VN). Theo chinh kinh nghiệm của mình, làm việc với assistant Prof ở trường rank trung và thấp rất dễ bị áp lực viết báo low quality. Điều này là do họ muốn có đủ báo để lấy tenure và kiếm funding. Thế phải làm gì trong trường hợp này? Theo mình là phải tỉnh táo và figure out được "important problems and who are pioneers in the field to track good directions". Tốt nhất là phải "control" được Prof của mình đế lái research vào main stream và solving good research problems. Như trường hợp của mình: mình từng bị áp lực viết báo rất lớn từ supervisor (to him at that time whatever papers seem to be fine as long as they can be published in reasonably good journals). Một cách khác là tìm cách collaborate with big reseachers trong field của mình để đi vào main streams. Điều này cỏ thể khá tricky nếu supervisor của mình ko muốn. Phải cố tạo ra tình huống như là ko collaborate với họ thì research sẽ bị stuck.
- Một điểm thứ 2 cũng rất quan trọng (Kev đã đề cập) là networking với big researchers around the world. Điếu này cực kỳ quan trọng (đặc biệt nếu học trường rank trung và thấp). Một lợi thế thấy rõ là có người viết thư tốt khi đi tìm jobs.
- Tìm mọi cách "do marketing" cho research của mình. Điếu này có thể làm bằng cách active discuss with people in the same field at technical conferences, have website to post papers, exchange emails with people doing similar things. Cơ hội tìm được việc làm sẽ cao hơn nếu mình known và có good citation (through marketing).
- Điếu cuối cùng là tìm cách đi internship ở good research lab và cố có papers với các researchers ở đấy. Đi visiting các Prof nổi tiếng cũng là việc rất tốt.
Letter of recommendation
Tôi mời các bác comment về một vấn đề cũng rất quan trọng: how to choose referees (for recommendation letters) and how to make them to write right and great things about us?
- Tôi còn nhớ vài bác (dường như kitte) có bàn về việc good recommendation letters để xin học PhD. Cái này cũng có liên quan nhưng thư để Phd xin việc tớ nghĩ phức tạp hơn nhiều (vì chúng ta phải compete with many strong senior candidates for a single job). Nếu bác nào có friendly Profs (td Prof Viet) có thể hỏi được và đem chia sẽ thì rất hay.
- Cứ theo suy đoán của tôi thì well-known Prof writing strong and relevant letters là trường hợp lý tưởng nhất. Có thể có people in and slight outside the field to write letters together cỏ thế làm profile stronger. Nó có thể chứng tỏ research của mình có impacts ra ngoài ngành hẹp và Prof ko nằm trong ngành hẹp có thể có những đánh giá đề mình để mình nhìn toàn diện hơn. Một td là engineering PhD having letters from a well-known applied math Prof (related to our engieering research of course) rõ ràng giúp rất nhiều.
- Tôi nghĩ biết được thế nào là "good letter" quan trọng vì nhiều "lazy Profs" bảo SV viết trước và họ chỉ sửa sơ qua. Nếu ko biết cách viết thì có thể tự mình giết mình.
Presentation
Tôi mời các bác đóng góp về topic "how to make an impressive job talk?". Tôi nghĩ đây là điểm yếu chết người của chúng ta (Viet PhD), đặc biệt nếu học under ở VN. Tôi đưa ra vài comments mà tôi có dưới đậy. Mời các bác phản biện và đóng góp thêm:
- Custom presentation slide theo đúng audience (tôi chỉ muốn dề cập cho engineering PhD thôi). TD nếu talk to a group of people many of them are applied math Profs thì phải make it rigorous while give insights of all proof results. Còn nếu talk to pure engineering people thì nhấn mạnh research motivation, contribution, research/design challenge and insight hơn là tập trung quá nhiều vào math and proof.
- Make animation/pictures in the slides to make them less boring (cái trick náy có vẻ khá hữu ich nếu talk dài quá).
- Give chance to ask them if they have questions and if they understand your talk throughout your presentation. If they understand well then they are more likely to appreciate your research.
Tôi cũng mời các bác giới thiêu talk slides của những người thành công trong nhiếu ngành khác nhau để chúng ta có thể tham khảo. Chúng ta có thể improve talk skills through group, conference talks nên bắt đầu từ bây giờ ko phải là sớm. Tôi bắt đầu bằng đưa web của mấy bác ben EECS mà tôi nghĩ họ làm talk slide khá Pro! Nếu bác nào có thể xin job talk slides của những người thành công gần đây và share cho mọi người thì hay quá.
Ed Knightly (computer/wireless networking researcher) [Only registered and activated users can see links. ]
Adam Wierman (CS, queuing theory, networking, operation research) [Only registered and activated users can see links. ]
Lần đọc: 1659
We thank Mister for this original paper:
haichit (10-02-2011), hung (02-13-2010), kitte (07-15-2009), nano (06-04-2011), sun (02-07-2010)
Tình hình xin việc của bác Mister thế nào rồi? Chắc dạo này bận bịu nên không thấy bác ghé qua forum hay online ở fb nữa. Lúc nào rảnh, bác quay lại chia sẻ kinh nghiệm cho tụi đàn em đi sau với.
Về chuyện việc làm em thấy [Only registered and activated users can see links. ] ở blog KHMT có rất nhiều thông tin thú vị và bổ ích. Hôm nay ở khoa cũng được nghe mấy bạn sắp ra trường vừa apply job thành công chia sẻ những kinh nghiệm rất bổ ích. Mặc dù chuyện xin việc là tương lai khá xa đối với các bạn sinh viên năm 1-3 nhưng cứ chịu khó nghe và nắm bắt thông tin cũng tạo được những hình ảnh ban đầu về quá trình đó xảy ra như thế nào.
Tình hình xin việc của bác Mister thế nào rồi? Chắc dạo này bận bịu nên không thấy bác ghé qua forum hay online ở fb nữa. Lúc nào rảnh, bác quay lại chia sẻ kinh nghiệm cho tụi đàn em đi sau với.
Về chuyện việc làm em thấy [Only registered and activated users can see links. ] ở blog KHMT có rất nhiều thông tin thú vị và bổ ích. Hôm nay ở khoa cũng được nghe mấy bạn sắp ra trường vừa apply job thành công chia sẻ những kinh nghiệm rất bổ ích. Mặc dù chuyện xin việc là tương lai khá xa đối với các bạn sinh viên năm 1-3 nhưng cứ chịu khó nghe và nắm bắt thông tin cũng tạo được những hình ảnh ban đầu về quá trình đó xảy ra như thế nào.
Mấy hôm nay bận quá nên hôm nay mới quay lại được. Nam nay tôi cũng chưa apply job nên cũng ko có gì mới.
Để tiếp tục thảo luận, tôi muốn đề cập đến vấn đề publication. Cụ thể nếu phải chọn giữa việc publish ít papers nhưng chất lượng cao và publish nhiều papers nhưng chất lương trung bình thì nên chọn hướng nào trong quỹ thời gian cho phép? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn đưa ra 2 VD tìm job thành công thời gian gần đây.
VD1: Alexandros G. Dimakis (Assistant Prof, USC; PhD UCB) [Only registered and activated users can see links. ]
Tay này có impressive publication:
Journal Submitted
1. M. A. Khajehnejad A. G. Dimakis, W. Xu, B. Hassibi, “Sparse Recovery
of Positive Signals with Minimal Expansion,”, IEEE Journal of Selected
Topics in Signal Processing, Compressed Sensing issue, submitted for publication.
2. A. G. Dimakis, P. B. Godfrey, Y. Wu, M. J. Wainwright and K. Ramchandran
“Network Coding for Distributed Storage Systems”, IEEE Transactions
on Information Theory, submitted for publication.
3. A. G. Dimakis, M.J. Wainwright, and K. Ramchandran. “Lower bounds
for low-density binary linear codes: Max-XORSAT and effective ratedistortion”,
IEEE Transactions on Information Theory, submitted for publication.
4. F. Benezit, A. G. Dimakis, P. Thiran, and M. Vetterli. “Gossip along
the way: Order-optimal consensus through randomized path averaging”.
IEEE Transactions on Information Theory, submitted for publication.
5. C. Daskalakis, A. G. Dimakis and E. Mossel, “Connectivity and Equilibrium
in Random Games”, Annals of Applied Probability, submitted for
publication.
Journal Accepted
6. C. Daskalakis, A. G. Dimakis, R. Karp and M. J. Wainwright, “Probabilistic
Analysis of Linear Programming Decoding”. IEEE Transactions
on Information Theory 54(8), August 2008.
7. A. G. Dimakis, A. A. Gohari and M. Wainwright, “Guessing Facets: Polytope
Structure and Improved LP Decoding” IEEE Transactions on Information
Theory, to appear.
8. A. G. Dimakis, A.D. Sarwate, and M.J. Wainwright, “Geographic Gossip:
Efficient Averaging for Sensor Networks”. IEEE Transactions on Signal
Processing, Volume 56, Issue 3, March 2008.
9. A. G. Dimakis V. Prabhkaran, K. Ramchandran, “Decentralized Erasure
Codes for Distributed Networked Storage”, Joint special issue, IEEE
Transactions on Information Theory and IEEE/ACM Transactions on
Networking, June 2006.
10. A. G. Dimakis, P. Maragos, “Phase Modulated Resonances by Self-Similar
Processes With Application to Turbulent Sounds”, IEEE Transactions on
Signal Processing, Nov 2005, Vol 53.
Conference papers: 24
Comments: Có thể chúng ta ko quá ngạc nhiên khi Dimakis lấy được good job với publication nhiếu như thế. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh là hắn ko chỉ có số lượng lớn về publication mà research của hắn cũng rất hot và interesting. Tất nhiên chuyện hắn học trường top và hợp tác với nhiều người nổi tiếng rõ ràng giúp hắn nhiều.
VD2: AvestimehrSalman Avestimehr (Assistant Professor EE, Cornell; PhD UCB) [Only registered and activated users can see links. ]
Nếu nhìn vào publication của chú này, ta có thể thấy hắn chí có một journal accepted, một vài cái under submission và vài conferece papers. Số lượng publication thế này thuộc loại trung bình kém trong ngành EE. Tuy nhiên việc hắn lấy được job ở top 10 school là do research impact của hắn khá tốt. Cụ thể hắn solve long-lasting problem in information theory (tìm capacity của relay và intereference channels) dù chỉ là lời giải gần đúng.
Tứ hai TD này tôi mạo muội trả lời câu hỏi ở trên nhứ sau: số lương publication lớn chỉ làm cho profile strong khi nó đủ deep và interesting trong khi nếu số lượng publication ít thì phải thật sự đột phá mới hy vọng kiếm được job sau phD. Tất nhiên học trường rank thấp thì phải phấn đấu gấp vài lần dân trưởng top mới hy vọng có được job tương đương. Kev vùa mới ra trường hợp thú vị về Albert-László Barabási, University of Notre Dame, USA (research của hắn rầt đột phá nhưng học trò vẫn rất vất vả kiếm job vì trường rank ko cao).
Thằng thổ này là ngôi sao sáng nhất Econ job market năm nay đấy. Cậu được hầu hết các trường Ivy offer job rồi. Cậu học master về EE/CS, Phd làm về macro. Quan trọng là cậu có 3 paper về math&OR, 2 cái Solution Manual về Econ thì bình thường thôi. (À quên, jobmarket paper của cậu làm về Asset Pricing thì quả là chị không biết, vì không làm về cái đấy). Thế nên có vẻ như kinh nghiệm là nếu ít publication quá thì kéo dài thời gian Phd 1 năm nữa, làm thêm thì xin việc có lẽ tốt hơn là ra sớm.
[Only registered and activated users can see links. ]
Thằng này cũng silver IMO và putnam, chưa kể 1 đống giải quốc gia ở Thổ. Nhưng không nhất thiết phải có giải thưởng về toán đâu, bởi vì ngành Econ có thể thành công theo 2 hướng. Một là lập các mô hình toán phức tạp. Hai là có ý tưởng hay phù hợp với thực tiễn, phần technical/math có thể không đáng kể.
Esther Duflo, chỉ vì có nhiều ý tưởng lặt vặt và làm empirical tốt mà trở thành một trong những tài năng được đánh giá cao nhất hiện nay, mặc dù phần econometrics trong các paper của bà ấy thì đơn giản thôi
__________________ Thực ra thì tôi cũng không chắc, thế giới xung quanh tôi có tồn tại thật hay không.
thay đổi nội dung bởi: Jenny, 02-12-2010 lúc 10:19 PM