Bàn luận về self concept là một chủ đề lớn trong cross-cultural research. Cho tới hiện nay, một trong các hạn chế lớn của điều tra bằng bảng hỏi là phải chấp nhận self-reported data của khách thể.
Khi trả lời câu hỏi về "tôi nghĩ", "tôi tin",..., một cách tự động và vô thức bạn phải định nghĩa "tôi" đầu tiên.
"Tôi" dĩ nhiên phải là một con người. Đó là điều đầu tiên.
Khái niệm "con người" ở trong những nền văn hóa khác nhau có thể được hiểu khác hẳn nhau!
Câu hỏi: Thế nào là một con người?
Theo một số nhà nghiên cứu (Chú ý: đây là quan điểm cũ, vì hiện nay quan niệm cứng nhắc phân biệt Đông-Tây, văn hóa nước này, nước kia không được ủng hộ nữa. Tuy nhiên không phải vì thế mà những quan điểm này hoàn toàn không còn giá trị!!!), sẽ có 2 câu trả lời khác nhau tùy thuộc người trả lời là ai.
Câu trả lời 1: “A bounded, coherent, stable, autonomous, free entity.” [tạm dịch là một thực thể tự do, độc lập, tự chủ, có tính ổn định và có một ranh giới riêng biệt với những thực thể khác]. Đây là cách nhìn nhận về thế nào là một con người của những người sống trong văn hóa phương Tây. (Markus & Kitayama, 1991, 1998; Geertz, 1975…)
Câu trả lời 2: “A connected, fluid, flexible, committed being who is bound to others” [tạm dịch là một sinh vật sống có trách nhiệm, linh hoạt, có liên hệ với những người khác và vì thế không có một “biên giới” rõ rệt phân định với người khác]. Đây là cách nhìn của những người trong nền văn hóa châu Á. (Markus & Kitayama, 1998; Ho, 1993)
Tương ứng, có 2 mô hình khác nhau về cái “bản thân”.
Mô hình của người phương Tây: “independent self”, có nghĩa là cách nhìn nhận cái “bản thân“ của mỗi cá nhân là độc lập với toàn bộ những cá nhân khác/hoàn cảnh xung quanh, bao gồm đặc điểm tính cách, khả năng, động cơ, hệ giá trị của cá nhân đó (mặc định là có tính ổn định cao). Vì thế cái “bản thân” trong nền văn hóa phương Tây có thể được dùng để giải thích hoàn toàn cho hành vi ứng xử và chịu trách nhiệm đối với hành vi ứng xử của một cá nhân (Markus & Kitayama, 1991, 1998; Landrine & Klonoff, 1992…). Nói cách khác, cái “bản thân” là cách nhìn của một người về mình với toàn bộ đặc điểm hành vi ứng xử, năng lực, khả năng, động cơ, thái độ, đóng góp… của người đó, và là đặc trưng, là cái riêng, cái khác biệt với những người khác.
Mô hình của người châu Á: “interdependent self”, là cách nhìn nhận cái “bản thân” nằm trong quan hệ phụ thuộc với những người khác, với hoàn cảnh. Theo mô hình này, “the self is not, and cannot be, separated from others and the surrounding social context” [cái “bản thân” không, và không thể tách rời khỏi những người khác hay tách rời khỏi hoàn cảnh xung quanh]. (Markus & Kitayama, 1998).
Lấy ví dụ:
Trong thực nghiệm của Markus & Kitayama, khi được yêu cầu viết một đoạn ngắn mô tả bản thân mình, các sinh viên Mỹ và các sinh viên Nhật Bản có những cách trả lời hoàn toàn khác nhau.
Người Mỹ mô tả về bản thân mình ví dụ như: “Tôi là một người thoáng và thoải mái. Tôi tin là tôi rất lạc quan.”, “Tôi muốn sống một cuộc sống thật sôi động. Tôi luôn cảm thấy có nhiều việc cần làm để được trải nghiệm them.”, “Tôi là một người hạnh phúc. Tôi làm việc chăm chỉ.” … Nghĩa là, những mô tả hết sức trực tiếp và cụ thể về bản thân và duy nhất bản thân.
Còn người Nhật thì lại thường có những mô tả kiểu như sau: “Tôi làm tất cả những gì mình muốn trong chừng mực mà những điều ấy không làm phiền người khác”, “Tôi là một người khá lịch thiệp và tôn trọng người khác”, “Tôi khẳng định bản thân trong mức độ để tránh xung đột với những người khác”, “Tôi làm việc chăm chỉ hơn các đồng nghiệp của mình”… Nghĩa là, những mô tả về bản thân thường nằm trong so sánh hoặc trong mối liên hệ với những người khác.
Quan niệm về một “interdependent self” không chỉ đúng với người Nhật, mà tất cả những người châu Á khác như người Trung Quốc, Hàn Quốc, người Đông Nam Á, Nam Á, ngay cả người Nam Mỹ và châu Phi (Geertz, 1975; Markus & Kitayama, 1991, 1998; Marsella, DeVos & Hsu, 1985; Miller, 1984..)
Đặc biệt riêng ở người châu Á còn tồn tại một khái niệm “cộng đồng” trong cấu trúc của mọi quan niệm, tất nhiên cả trong quan niệm về cái “bản thân” – “Asian selfways”. Có một đoạn mô tả như sau về điều này:
“Ở châu Á, phong tục và thể chế góp phần nuôi dưỡng relationality – tính liên hệ (ví dụ "là một phần của cái gì", "thuộc về cái gì",..), cổ vũ sự phù hợp giữa hành động của một người với mong đợi của xã hội. Trẻ em được dạy để biết trân trọng giá trị của tập thể. Các sự kiện đặc biệt của cơ quan, đoàn thể, nhóm xã hội thường nhằm để ăn mừng sự thành công/lớn mạnh của tập thể chứ ít khi để chúc mừng thành tựu cá nhân của ai đó. Biết chú ý đến, biết đồng cảm hay thông cảm với người khác là một trong những mục tiêu đào tạo cơ bản của giáo dục . Sau đó, những điều này tiếp tục được rèn luyện, nuôi dưỡng, khuyến khích thông qua nhiều tình huống, ở nhiều môi trường khác nhau. Truyền thông và những tình huống được thực tập thường xuyên tại nhà, tại chỗ làm cổ vũ cho việc làm sao để giống với những người khác (ví dụ gương người tốt việc tốt), có nhiều liên hệ với người khác (nhiều bạn bè, nhiều quan hệ..), và làm sao biết người, hiểu người, mà không phải là thực sự hiểu mình. Sự tham gia vào những “bài tập, khóa học” này qua nhiều năm sẽ đưa tới kết quả là, mỗi người sẽ tự nhìn nhận bản thân là một phần của nhóm/tập thể/của cả xã hội mà mình sống trong đó.
Một nhân cách được coi là trưởng thành, tốt đẹp và hợp với chuẩn mực phải được phát triển để trở nên phù hợp với mong đợi của mọi người, phải là cái được mọi người đồng cảm, thông cảm, và phải tự biết mình là một phần của xã hội” (Fiske, Kitayama, Markus & Nisbett, 1998; Kitayama et al., 1997; Markus, Mullally & Kitayama, 1997).
Tôi xin chiếu từ góc nhìn này lên một trường hợp cụ thể (đã viết trên blog): Thi hoa hậu Hoàn vũ VN - câu hỏi ứng xử của Hoàng Yến []
Theo mình, vấn đề của Hoàng Yến chính là câu hỏi mà Yến nhận được đêm thi chung kết. Câu trả lời của Yến không đúng vào trọng tâm câu hỏi, đi lòng vòng. Theo mình câu hỏi: „Nhìn lại con người bạn và nhìn nhận điều tốt đẹp nhất về bản thân mình?“ là một câu hỏi phù hợp với văn hóa phương Tây hơn là văn hóa châu Á. Vì vậy, theo mình đó là một câu hỏi khó dành cho một người Việt Nam!
Câu trả lời của Yến là: Em nghĩ, em muốn hướng đến 1... và 2... và 3... và 4... và 5... và “xin để người khác đánh giá em”. Nhiều người cười và tỏ ý chê bai, vì câu trả lời không đúng trực tiếp vào câu hỏi. Đơn giản, bạn nghĩ điểm mạnh nhất của bạn là gì?!
Tại sao nhiều người lại chê trách Yến, khi mà trong trường học, học sinh chả bao giờ được yêu cầu tự mô tả bản thân mình, toàn chỉ viết các bài văn mô tả anh hùng dân tộc, nhân vật điển hình. Hơn nữa, chả ai quan tâm xem 1 em học sinh tự đánh giá thế nào về mình. Nhà trường, gia đình và ngay cả bản thân em học sinh chỉ dành hết quan tâm cho đánh giá của giáo viên về em học sinh, ghi trong sổ liên lạc. Ngay cả đoàn thể, cuối năm lên lớp, thưởng phạt ra sao, người ta sẽ hỏi tổ trưởng, lớp trưởng, bí thư về tư cách, tính cách, ưu/khuyết của một bạn chứ không hỏi chính bạn đó về bản thân mình. Vậy câu trả lời “xin để người khác đánh giá em” là một câu trả lời cực kỳ “chuẩn”, so với những gì gia đình, nhà trường và xã hội lâu nay đào tạo học sinh Việt Nam. Việc Yến không chỉ trả lời 1 mà đến những 5 điều tốt đẹp nhất, cũng ko hẳn tốt đẹp nhất, mà lại là điều em muốn “hướng đến”, là minh họa khá rõ cho lý thuyết nêu trên của một số nhà nghiên cứu người Nhật, Hong Kong và phương Tây.
***************
Trang chủ của 2 nhà nghiên cứu Markus và Kitayama (trong đó có tên những articles mới hơn về chủ đề này nếu bạn quan tâm):
[Only registered and activated users can see links. ] [Only registered and activated users can see links. ]
__________________ ______________________________ Màu váy hay là màu tóc em To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.