Gerard’t Hooft: Để trở thành một nhà Vật lý lý thuyết
[Only registered and activated users can see links. ][Only registered and activated users can see links. ] [Only registered and activated users can see links. ]: nhà vật lý lý thuyết của trường đại học Utrecht, Hà Lan, người đã đạt giải thưởng Nobel Vật lý năm 1999 cũng với Martinus Veltman với công trình liên quan đến cấu trúc lượng tử của các tương tác hạt nhân yếu đã giới thiệu trang web của mình từ lâu, trong đó ông có một hướng dẫn : Làm gì để trở thành một nhà vật lý lý thuyết.
H1. Giáo sư Gerardus’t Hooft cùng với mô hình đơn cực từ [1]
Trước tiên, ông xếp hạng những bộ môn cần thiết cũng như thứ tự học trong lĩnh vực vật lý, từ cấp độ thấp đến cao, nơi đỏi hòi nhiều kiến thức nền tảng và công cụ toán học song song. 1. Languages : Ngôn ngữ là điều kiện trước tiên, bạn phải có khả năng đọc, viết, hiểu và diễn giải theo ngôn ngữ thông dụng quốc tế như tiếng Anh hay tiếng Pháp. Sớm hay muộn, bạn sẽ cần có những công bố khoa học, và tất nhiên bạn muốn người đọc hiểu những gì mình viết ra, một cách rõ ràng và thông thoát. 2. Primary Mathematics : Đó là những kiến thức cơ bản nhất của toán học, số thực, số ảo, lượng giác, dãy số hay các hàm số đặc trưng. Kiến thức cơ bản về xác suất thông kê cũng như đạo hàm, đạo hàm riêng, hay vi phân, và lý thuyết tập hợp, tôpô 3. Classical Mechanics : Cơ học cổ điển, trong đó những kiến thức về tĩnh học, lực, hay định luật Newton làm nền tảng. Định luật Kepler, chuyển động của các hành tinh hay hệ nhiệt vật cũng thuộc lĩnh vực cơ học cổ điển. Nguyên lý tác động tối thiểu, các phương trình bán cổ điển Hamilton, Lagrangean đều rất quan trọng. Dao động điều hòa, con lắc đơn, phương trình sóng, chuyển động của chất lỏng, chất khí hay phương trình Navier- Stokes cũng thuộc lĩnh vực cơ học cổ điển. 4. Optics: Quang học, trong đó các kiến thức cơ bản nhất như phản xạ, khúc xạ ánh sáng, thấu kính, gương, ống nhòm và kính thiên văn sẽ được giới thiệu. Một số mô hình ánh sáng của Newton, Huygen, và quá trình truyền sóng , cũng như hiệu ứng Doppler là một phần không thể thiếu trong quang học cổ điển. 5. Statistical Mechanics and Thermodynamic : Thống kê và nhiệt đông lực học, ở đây bạn sẽ được tìm hiểu về 3 nguyên lý của nhiệt động lực học, phân bố Boltzmann, chu trình Carnot, quá trình chuyển pha, và đặc biệt là khái niệm Entropy cũng như các bậc tự do. Mô hình Ising cũng như định luật phát xạ Planck sẽ được đề cập đến. 6. Electronics: Các kiến thức cơ bản và sơ khai về điện tử, mạch điện, và việc sử dụng số ảo trong các công thức của hệ điện tử. Bóng bán dẫn và diode cũng là một phần tối quan trọng trong các mạch tích hợp, và hệ điện tử. 7. Electromagnetism: Lý thuyết điện từ : Sử dụng các phương trình Maxwell, ánh sáng được coi là một sóng điện tử và tuân thủ các định luật Maxwell. Nhiều bài toán biên, trong môi trường chân không, đường dẫn sóng sẽ được đề cập đến. Trường vector và bất biến gauge cũng như quá trình hấp thụ và phát xạ sóng điện từ là trọng tâm của lý thuyết điện từ. 8. Quantum Mechanics: Cơ học lượng tử, các vấn đề mà cơ học cổ điển không thể giải thích nổi, dẫn đến việc hình thành và xây dựng cơ học lượng tử. Trong đó nguyên tử Bohr, công thức Debroglie, phương trình Schrodinger, nguyên lý bất định Heisenberg cùng hàng lọat các bài toán cơ bản, giếng thế, các hiệu ứng như Zeeman hay Stark. Song song với nó là các toán tử năng lượng, động lượng, và các tính chất không giao hoán, tính chất đối xứng và không đối xứng của hàm sóng. 9. Atoms and Molecules: Những kiến thức cơ bản của cơ học lượng tử sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìm hiểu và giải thích các liên kết hóa học, ortibal, phổ nguyên tử cũng như quá trình phát xạ, hấp thụ ánh sáng, các quy luật như nguyên lý loại trừ hay môment từ. 10. Solid State Physics: Vật lý chất rắn, nơi đây nhiều vấn đề như các nhóm tinh thể, phản xạ Bragg, các hàng số điện môi, dung môi hay phổ Bloch, cùng với mức năng lượng Fermi sẽ được đề cập. Sự phân loại của chất cách điện, dẫn điện và bán dẫn sẽ được giải thích một cách đầy đủ, nhiều tính chất đặc biệt như nhiệt dung riêng, điện tử và lỗ trống, bóng bán dẫn, hiệu ứng Hall và siêu dẫn có thể được giải thích. 11. Nuclear Physics: Vật lý hạt nhân bao gồm các chủ đề về đồng vị, các phản ứng hạt nhân, nhiệt hạch, mô hình Droplet hay các số lượng tử, spin đồng vị và lý thuyết Yukawa sẽ đều được giới thiệu. 12. Advanced Mathematics: Toán cao cấp, bao gồm lý thuyết nhóm, lý thuyết biểu diễn, đại số Lie, vector và tensor cùng với hàng lọat kỹ thuật giải phương trình đạo hàm riêng, các phương pháp cựuc trị và xấp xỉ, không gian Hilbert và tích phân hàm sẽ được đề cập đến. 13. Special Relativity: Lý thuyết tương đối hẹp đòi hỏi những hiểu biết về biến đổi Lorentz, co giãn thời gian, phương trình năng lượng, các luật biến đổi trường Maxwell hay hiệu ứng Doppler tương đối tính. 14. Advanced Quantum Mechanics: Cơ học lượng tử nâng cao, bao gồm các chủ đề về không gian Hilbert, diễn giải của CHLT theo nhiều mô hình khác nhau. Ma trận mật độ, bất đẳng thức Bell, phương trình Diract. Lý thuyết BCS của siêu dẫn, hiệu ứng Hall lượng tử, phương pháp xấp xỉ WKB, hệ đông đặc Bose- Einstein hay quá trình siêu lỏng của Helium đều không thể thiếu trong nội dung của phần này. 15. Phenomenology: Vật lý thiên văn, vật lý hạt, hạ nguyên tử, các mô hình vũ trụ và các kỹ thuật kiểm tra phóng xạ màn vũ trụ hay các hằng số vũ trụ, các lý thuyết vũ trụ giãn nở đều rất quan trọng và cần thiết. 16. General Relativity: Lý thuyết tương đối rộng, đòi hỏi những kiến thức về metric tensor, không-thời gian cong, phương trình hấp dẫn của Einstein, hay khái niệm lỗ đen Schwarzschild, Reissner-Nordstr, thấu kính hấp dẫn cũng các mô hình vũ trụ, sóng hấp dẫn. 17. Quantum Field Theory: Lý thuyết trường lượng tử bao gồm Dirac-spinor, các trường vector Yang-Mill, quá trình phá vỡ đối xứng, Goldstone mode hay nguyên lý Higgs. Phản hạt, sơ đồ loop, quá trình chuẩn hóa, lý thuyết lượng tử gauge hay nhiều loại đối xứng đều được đề cập. 18. Superstring Theory: Lý thuyết dây và hàng lọat các lý thuyết đầy tham vọng thâu tóm vụ trụ, kết hợp giữa lượng tử và hấp đẫn trong các mô hình hấp dẫn lượng tử đề giải thích về nguồn gốc của vũ trụ, thời gian và các hằng số tự nhiên. Lý thuyết dây, lý thuyết hấp dẫn lượng tử vòng, lý thuyết dựa trên hình học không giáo hoán, trường bảo giác hay twistors hay vũ trụ song song đều là những ý tưởng vượt sức tưởng tượng bình thường, và được gép vào lĩnh vực siêu-vật lý.
Đó là những kiến thức cần có để có thể trở thành một nhà vật lý lý thuyết, tuy nhiên, còn quy trình học tập thì sao ?
Nhà vật lý Michio Kaku, cùng với [Only registered and activated users can see links. ]có hướng dẫn cụ thể hơn : Những bước để trở thành một nhà Vật lý. Với việc nhấn mạn ” không cần có bộ óc của Einstein mới có thể trở thành một nhà vật lý giỏi “, tuy nhiên điều kiện ” tối thiếu” để trở thành một nhà nghiên cứu vật lý, đó là những kiến thức ở trên cùng với quá trình học cao học và giải quyết những vấn đề nguyên bản – original research. [Only registered and activated users can see links. ]: cũng giới thiệu nhiều bố sách giáo khoa, tham khảo giúp ích cho việc tìm hiểu sâu hơn những lĩnh vực vật lý được giới thiệu ở trên.
Classical Mechanics:
Classical Mechanics – 3rd ed. – Goldstein, Poole & Safko
Classical dynamics: a contemporary approach – Jorge V. Jos�, Eugene J. Saletan
Classical Mechanics – Systems of Particles and Hamiltonian Dynamics - W. Greiner
Mathematical Methods of Classical Mechanics, 2nd ed. – V.I. Arnold
Mechanics 3rd ed. – L. Landau, E. Lifshitz
Statistical Mechanics:
L. E. Reichl: A Modern Course in Statistical Physics, 2nd ed.
R. K. Pathria: Statistical Mechanics
M. Plischke & B. Bergesen: Equilibrium Statistical Physics
L. D. Landau & E. M. Lifshitz: Statistical Physics, Part 1
S.-K. Ma, Statistical Mechanics, World Scientific
Quantum Mechanics:
Quantum Mechanics – an Introduction, 4th ed. – W. Greiner
R. Shankar, Principles of Quantum Mechanics, Plenum
Quantum Mechanics – Symmetries 2nd ed. – W. Greiner, B. Muller
Electromagnetic Fields And Waves – lorrain and corson
Classical Electrodynamics – W. Greiner
Introduction to Electrodynamics – D. Griffiths
Quantum Electrodynamics – 3rd ed., – W. Greiner, J. Reinhardt
Optics:
Principles of Optics – M.Born, E. Wolf
Principles Of Nonlinear Optics – Y. R. Shen
Thermodynamics:
Thermodynamics and an Introduction to Thermostatistics 2ed – H. Callen
Thermodynamics and statistical mechanics – Greiner, Neise, Stoecker
Solid State Physics:
Solid State Physics – Ashcroft, Neil W, Mermin, David N
Introduction to Solid State Physics 7th edition- Kittel, Charles
Special Relativity:
Classical Mechanics – Point Particles And Relativity – W. Greiner
Introduction to the theory of relativity and the principles of modern physics – H. Yilmaz
General Relativity:
J.B. Hartle, [Only registered and activated users can see links. ], An Introduction to Einstein’s General Relativity, [Only registered and activated users can see links. ], 2003.
T.-P. Cheng, Relativity, Gravitation and Cosmology, A Basic Introduction, Oxford Univ. Press, 2005.
Particle Physics:
Introduction to Elementary Particles – D. Griffiths
Fundamentals in Nuclear Physics – From Nuclear Structure to Cosmology – Basdevant, Rich, Spiro
Field Theory:
B. de Wit & J. Smith, Field Theory in Particle Physics, North-Holland
C. Itzykson & J.-B. Zuber, Quantum Field Theory, McGraw-Hill.
String Theory:
Barton Zwiebach, A First Course in String Theory, Cambridge Univ. Press, 2004
M.B. Green, J.H. Schwarz & E. Witten, Superstring theory, Vols. I & II, Cambridge Univ. Press
Cosmology:
An Introduction to cosmology, 3rd Ed – Roos
Relativity, thermodynamics, and cosmology – Tolman R.C.
General:
J.B. Marion & W.F. Hornyak, Principles of Physics, Saunders College Publishing, 1984, ISBN 0-03-049481-8
H. Margenau and G.M. Murphy, The Mathematics of Physics and Chemistry, D. v.Nostrand Comp.
Bài này khá là hay. Bạn nào muốn học vật lý mà băn khoăn ko biết dùng sách nào, có thể dựa vào list này mà học. Bạn nào chuẩn bị sang trường top muốn củng cố background trước (có ai vậy ko ta?) cũng có thể dựa vào list này luôn. Chả gì động vào Quantum Mechanics chắc là nhiều nơi dùng cuốn Shankar rồi (nhẹ hơn có cuốn Introduction của Griffith, nặng hơn là cuốn Sakurai trong list); nhắc đến Solid States Physics thì dân tình nhớ ngay đến Charles Kittel và Ashcroft & Mermin (cuốn Mermin khó hơn cuốn Kittel); rồi Electrodynamics thì có cuốn Jackson (ác mộng mà vẫn phải xài)...
__________________ Happy are those who dream dreams and are ready to pay the price to make them come true To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Hôm nay đang bàn về chuyện làm thế nào để đi trên mặt nước. CHị GF có thể cho một mô hình và thí dụ đơn giản, cụ thể như ném một hòn đá trên mặt nước. Làm thế nào để hòn đá lướt trên mặt nước không ?
[Only registered and activated users can see links. ]
You have come to the right place
I’ve often been asked the question: how do you become a physicist? Let me first say that physicists, from a fairly early age, are fascinated by the universe and its fantastic wonders. We want to be part of the romantic, exciting adventure to tease apart its mysteries and understand the nature of physical reality.
That’s the driving force behind our lives. We are more interested in black holes and the origin of the universe than with making tons of money and driving flashy cars. We also realize that physics forms the foundation for biology, chemistry, geology, etc. and the wealth of modern civilization. We realize that physicists pioneered the pivotal discoveries of the 20th century which revolutionized the world (e.g. the transistor, the laser, splitting the atom, TV and radio, MRI and PET scans, quantum theory and relativity, unraveling the DNA molecule was done by physicists.
But people often ask the question: do I have to be an Einstein to become a physicist? The answer is NO. Sure, physicists have to be proficient in mathematics, but the main thing is to have that curiosity and drive. One of the greatest physicists of all time, Michael Faraday, started out as a penniless, uneducated apprentice, but he was persistent and creative and then went on to revolutionize modern civilization with electric motors and dynamos. Much of the worlds gross domestic product depends on his work.
Einstein also said that behind every great theory there is a simple physical picture that even lay people can understand. In fact, he said, if a theory does not have a simple underlying picture, then the theory is probably worthless. The important thing is the physical picture; math is nothing but bookkeeping.
Steps to becoming a Physicist:
1) in high school, read popular books on physics and try to make contact with real physicists, if possible. (Role models are extremely important. If you cannot talk to a real physicist, read biographies of the giants of physics, to understand their motivation, their career path, the milestones in their career.) A role model can help you lay out a career path that is realistic and practical. The wheel has already been invented, so take advantage of a role model. Doing a science fair project is another way to plunge into the wonderful world of physics. Unfortunately, well-meaning teachers and counselors, not understanding physics, will probably give you a lot of useless advice, or may try to discourage you. Sometimes you have to ignore their advice.
Don’t get discouraged about the math, because you will have to wait until you learn calculus to understand most physics. (After all, Newton invented calculus in order to solve a physics problem: the orbit of the moon and planets in the solar system.)
Get good grades in all subjects and good SAT scores (i.e. don’t get too narrowly focused on physics) so you can be admitted to a top school, such as Harvard, Princeton, Stanford, MIT, Cal Tech. (Going to a top liberal arts college is sometimes an advantage over going to an engineering school, since it’s easier to switch majors if you have a career change.)
2) next, study four years of college. Students usually have to declare their majors in their sophomore (2nd) year in college; physics majors should begin to think about doing (a) experimental physics or (b) theoretical physics and choosing a specific field.
The standard four year curriculum:
a) first year physics, including mechanics and electricity and magnetism (caution: many universities make this course unnecessarily difficult, to weed out weaker engineers and physicists, so don’t be discouraged if you don’t ace this course! Many future physicists do poorly in this first year course because it is made deliberately difficult.).
Also, take first (or second) year calculus.
b) second year physics - intermediate mechanics and EM theory.
Also, second year calculus, including differential equations and surface and volume integrals.
c) third year physics - a selection from: optics, thermodynamics, statistical mechanics, beginning atomic and nuclear theory
d) four year physics - elementary quantum mechanics
Within physics, there are many sub-disciplines you can choose from. For example, there is solid state, condensed matter, low temperature, and laser physics, which have immediate applications in electronics and optics. My own field embraces elementary particle physics as well as general relativity. Other branches include nuclear physics, astrophysics, geophysics, biophysics, etc.
Often you can apply for industrial jobs right after college. But for the higher paying jobs, it’s good to get a higher degree.
3) so then there is graduate school. If your goal is to teach physics at the high school or junior college level, then obtaining a Masters degree usually involves two years of advanced course work but no original research. There is a shortage of physics teachers at the junior college and high school level.
If you want to become a research physicist or professor, you must get a Ph.D., which usually involves 4 to 5 years (sometimes more), and involves publishing original research. (This is not as daunting as it may seem, since usually this means finding a thesis advisor, who will simply assign you a research problem or include you in their experimental work.) Funding a Ph.D. is also not as hard as it seems, since a professor will usually have a grant or funding from the department to support you at a rate of about $12,000 per year or more. Compared to English or history graduate students, physics graduate students have a very cushy life.
After a Ph.D: Three sources of jobs
a) government
b) industry
c) the university
Government work may involve setting standards at the National Institute for Standards and Technology (the old National Bureau of Standards), which is important for all physics research. Government jobs pay well, but you will never become wealthy being a government physicist. But government work may also involve working in the weapons industry, which I highly discourage. (Not only for ethical reasons, but because that area is being downsized rapidly.)
Industrial work has its ebbs and flows. But lasers and semi-conductor and computer research will be the engines of the 21st century, and there will be jobs in these fields. One rewarding feature of this work is the realization that you are building the scientific architecture that will enrich all our lives. There is no job security at this level, but the pay can be quite good (especially for those in management positions - it’s easier for a scientist to become a business manager than for a business major to learn science.) In fact, some of the wealthiest billionaires in the electronics industry and Silicon Valley came from physics/engineering backgrounds and then switched to management or set up their own corporation.
But I personally think a university position is the best, because then you can work on any problem you want. But jobs at the university are scarce; this may mean taking several two-year “post-doctorate” positions at various colleges before landing a teaching position as an assistant professor without tenure (tenure means you have a permanent position). Then you have 5-7 more years in which to establish a name for yourself as an assistant professor.
If you get tenure, then you have a permanent position and are promoted to associate professor and eventually full professor. The pay may average between $40,000 to $100,000, but there are also severe obstacles to this path.
In the 1960s, because of Sputnik, a tremendous number of university jobs opened up. The number of professors soared exponentially. But this could not last forever. By the mid 1970s, job expansion began inevitably to slow down, forcing many of my friends out of work. So the number of faculty positions leveled off in the 1980s.
Then, many people predicted that, with the retirement of the Sputnik-generation, new jobs at the universities would open up in the 90s. Exactly the opposite took place. First, Congress passed legislation against age-discrimination, so professors could stay on as long as they like. Many physicists in their seventies decided to stay on, making it difficult to find jobs for young people. Second, after the cancellation of the SSC and the end of the Cold War, universities and government began to slowly downsize the funding for physics. As a result, the average age of a physicist increases 8 months per year, meaning that there is very little new hiring.
As I said, physicists do not become scientists for the money, so I don’t want to downplay the financial problems that you may face. In fact, many superstring theorists who could not get faculty jobs went to Wall Street (where they were incorrectly called “rocket scientists”). This may mean leaving the field. However, for the diehards who wish to do physics in spite of a bad job market, you may plan to have a “fall-back” job to pay the bills (e.g. programming) while you conduct research on your own time.
But this dismal situation cannot last. Within ten years, the Sputnik-generation will finally retire, hopefully opening up new jobs for young, talented physicists. The funding for physics may never rival that of the Cold War, but physics will remain an indispensable part of creating the wealth of the 21st century. There are not many of us (about 30,000 or so are members of the American Physical Society) but we form the vanguard of the future. It also helps to join the APS and receive Physics Today magazine, which has an excellent back page which lists the various job openings around the country.
@pandar:đi trên mặt nước phải dựa vào 2 lực quan trọng: sức căng mặt ngoài và phản lực của nước. Chị ko chắc lắm nên gúc cho yên tâm, ai dè câu hỏi của em ối người nghiên cứu kĩ phết.
Vụ đi trên mặt nước: cái này là đề tài nghiên cứu của cả MIT mí Harvard (thanks anh gúc ). Đi từ từ từ côn trùng rồi hẵng nói đến người nhé. Kết quả như này:
MIT: dù bọn côn trùng nhẹ đến nỗi chỉ riêng sức căng mặt ngoài của nước cũng đủ nâng chúng nó ngon lành, chúng nó vẫn phải dùng center legs chèo như chèo thuyền để tiến về phía trước
Source: [Only registered and activated users can see links. ]
Cái này chắc người ko bắt chước được rồi
Harvard:
Bài này dài nên đưa source trước: [Only registered and activated users can see links. ]
Group này thì nghiên cứu với một loại thằn lằn. Bọn thằn lằn con còn nhỏ nhẹ, chúng nó nâng chân cao ngang đầu, dậm chân xuống nước theo chiều thẳng đứng là tạo ra phản lực đủ mạnh nâng chúng nó khỏi chìm rồi. Chân chúng nó có màng nữa nên cũng khó chìm hơn. Bọn thằn lằn con thực sự là di chuyển rất nhanh, con nhỏ nhất, nhẹ nhất đi chừng 20 bước/ giây.
Bọn thằn lằn nhớn thì chỉ đạt được 20% sức nâng từ chuyện dậm chân xuống nước. Chúng nó thực ra phải đẩy chân xuống nước ngập đến ngang bụng, tạo ra khoang không khí phía trên chân. Tuy nhiên bọt khí chỉ giữ được chưa đầy 1/10 giây nên chúng nó phải chạy rất nhanh, chừng 6miles/h. Bọn này vừa đập vừa đạp nước thì cũng đi được chừng 30 feet nước.
Bọn thằn lằn già thì chân chậm tay run rồi nên ko đi trên mặt nước được nữa, chỉ ở trên cạn thôi.
Cúng cuồi, để chạy trên nước giống bọn thằn lằn, con người phải có bàn chân to cỡ cây ô đang mở, phải nâng được bàn chân to đùng đấy lên ngang tai rồi đập xuống nước, rồi đi bước kế tiếp trong chưa đầy 1/4 giây. Để thực hiện tất cả các điều này, người ta phải có công lực mạnh gấp 15 lần người mạnh nhất đã từng xuất hiện trên trái đất. Híc, tóm lại là bạn nào đi hỏi xem cụ Thánh Gióng có đi được trên mặt nước không?
Làm sao hòn đá nảy tưng tưng trên mặt nước: Chủ yếu do phản lực của nước. Hòn đá liệng ngang mặt nước, khi chạm mặt nước sẽ chịu phản lực cùng phương ngược chiều với phương tới của nó. Vận tốc tới càng lớn, phản lực càng mạnh. Thành phần thẳng đứng triệt tiêu trọng lực làm nó ko chìm, thậm chí lớn hơn khiến nó nảy lên. Thành phần nằm ngang thì làm nó chuyển động chậm lại. Song vì vẫn còn vận tốc nên nó tiếp tục đi về phía trước. Sau vài lần nảy, nó đi chậm lại, phản lực theo phương thẳng đứng không đủ lớn nữa -> trọng lực kéo nó chìm.
Chị ko tin là người có thể đứng và nảy tương tự như đá. Dù sao ném đá kiểu này cũng phải chọn viên đá phẳng, dẹt. Còn người khi đứng thì chẳng dẹt tí nào. Áp suất lớn dễ chìm lắm.
Không biết pandar hỏi thế có phải từ clip này không? [Only registered and activated users can see links. ]
Chị nghĩ đoạn sông/hồ này rất rất nông. Trông họ chạy té nước tùm lum vậy chắc là chạy trên lòng sông thì đúng hơn. Đến đúng đoạn sông sâu thì họ hết chạy được. Hehe.
__________________ Happy are those who dream dreams and are ready to pay the price to make them come true To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
thay đổi nội dung bởi: GrassFairy, 06-24-2010 lúc 08:29 PM
Vật lý mà chỉ nói khoác như string theory thì mình theo Vật lý từ lâu rồi.
Khổ nỗi có phần cơ học cổ điển ở phổ thông khó quá.
Ặc, động chạm rồi đấy bác nhé. Em làm ặc cổ ra, mà bác cho câu toàn nói khoác à?
Đây, bác xem đi, nói là truyện cười, nhưng đúng là cái cảm giác đó đấy. [Only registered and activated users can see links. ]
Không am hiểu cơ học cổ điển thì học lý thuỷết dây thế qué nào đuợc cơ chứ?
thay đổi nội dung bởi: Whitebear., 06-24-2010 lúc 10:37 PM
Hihi, là ý bảo các bác string cứ suốt ngày ngồi ngồi tính tính, tưởng tượng hết chiều này chiều nọ, brane này brane nọ, trong khi chỉ cần phản chứng 1 phát thì cả một giai đoạn của Vật lý sẽ bị bỏ xó và những bộ óc siêu việt nhất hiện nay thất nghiệp.
Bác Mê Nấm cứ vui tính Lý thuyết đi trước thực nghiệm vẫn là chuyện thường tình. Lý thuyết cũng phải có cơ sở khá chắc, giải thích được nhiều hiện tượng mà lý thuyết trước bó tay rồi mới "lôi kéo" được nhiều người tin vào nó chớ. Nếu chỉ toàn "nói khoác" thì người ta chỉ cười bảo là "đồ điên" thôi (kiểu bốc phét tùm lum này bác đi dạo một chặp là thấy nhiều phết)
Cái "chỉ cần một phản chứng" cho string theory mà bác nói, xuất hiện một phát là đủ đem lại danh tiếng lẫy lừng cho chủ nhân của nó rồi. Tiếc là đến tận bây giờ vẫn chưa ai làm được. Muốn phản chứng cũng đâu phải dễ Kể cả string theory có thất bại đi nữa thì cũng không vì thế mà thành vô dụng đâu. Cùng lắm thì nó cũng thành một đôi vai người khổng lồ cho tân Newton sau này đứng lên thôi. Những bộ óc siêu việt cũng không vì thế mà thất nghiệp. Chỉ là chuyển sang hướng khác, thế thôi. Mà chuyện chuyển hướng này thì xảy ra thường xuyên, kể cả hướng hiện tại có work hay không. Vì một người nghiên cứu sau một thời gian cũng cần refresh lại, mở mang sang lĩnh vực mới... chuyện này có đăng trong 1 topic về tips trong research rồi thì phải. Nên chuyện chuyển hướng có xảy ra thì cũng không có gì ghê gớm, không có gì là "loser" cả.
Bác ứ thèm theo string theory thôi chứ em học ở đây thấy nhiều đứa điên tình với em string này lắm. Âu, Mỹ, Á đủ cả. Nhưng mà món này ngân quỹ rất có hạn. Trong vài năm chỉ có thêm 1,2 đứa được nhận theo hướng này thôi. Thế là năm nào cũng thấy có chú đành phải cắn răng dứt bỏ em string mà chuyển sang các thể loại condensed matter, particle physics, astrophysics.... để còn có thầy nuôi mà tiếp tục quả PhD.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Back to topic một phát. Đoạn này tớ thấy hơi khác với 1 lần hóng hớt từ một ông thầy:
After a Ph.D: Three sources of jobs
a) government
b) industry
c) the university
Ông thầy kia thì nói hậu Physics là 3 hướng:
1/3 tiếp tục theo academic
1/3 nhảy sang industry
1/3 "chúng mày biết đi đâu không? Đi Wall Street làm finance"
Lab tớ trước cũng có 1 bác Iran cũng định nhảy sang Wall Street. Thế mà xui cho bác ấy, gặp đúng cơn khủng hoảng. Giáo tớ thì nghèo nhưng nice vô cùng, không giục giã gì bác ấy, vẫn nuôi thêm 1 năm, chỉ ko đủ tiền trả lương như postdoc thôi. Cuối cùng bác ấy sang Columbia U. làm postdoc về bioinformatics. Không biết có phải bác ấy có nghiệp với academics không, hehe
__________________ Happy are those who dream dreams and are ready to pay the price to make them come true To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Có một câu hỏi thuộc loại fundamental là liệu có tồn tại the theory of everything không? Vì nếu luôn luôn tồn tại các mặt đối lập và mâu thuẫn là động lực phát triển thì biết đâu galaxies và quarks tuân thủ hai dạng quy luật khác nhau.
@Grassfairy: lấy gì làm justification để tiếp tục đổ tiền vào một hướng nghiên cứu mà không thấy triển vọng gì cuối đường hầm cả i.e. chừng nào chưa chứng minh được sự tồn tại của string, còn phản chứng bằng lý thuyết thì e không ai làm nổi vì ai qua mặt được lão Ed. Witten chứ.
thay đổi nội dung bởi: Mê Nấm, 06-27-2010 lúc 06:27 AM