[Only registered and activated users can see links. ] [Only registered and activated users can see links. ]
Giải nobel 2009 năm nay tạo ra một bất ngờ rất lớn, công trình của họ mới công bố trên Nature + Cell in 2000-2002. [Only registered and activated users can see links. ]
Điều mấu chốt là họ làm về protein-producing machinery, "Ribosome" in Bacteria.
[Only registered and activated users can see links. ]
More info about Charles K. Kao:
[Only registered and activated users can see links. ]
George E. Smith:
[Only registered and activated users can see links. ]
Willard Boyle:
[Only registered and activated users can see links. ]
thay đổi nội dung bởi: Whitebear., 07-09-2010 lúc 02:57 PM
Today is a wonderful day for UC Berkeley as we celebrate the joyous announcement that Professor Oliver E. Williamson, the Edgar F. Kaiser Professor Emeritus of Business, Economics, and Law has won the 2009 Nobel Prize in Economic Sciences for his pioneering work in the field of transaction cost economics. On behalf of our campus, I offer our heartiest congratulations to Professor Williamson, who shares this year's prize with Professor Elinor Ostrom at Indiana University. This is the fifth economics Nobel Prize for UC Berkeley and the 21st Nobel Prize for our campus. It is emblematic of Berkeley's greatness as a public university and today we all bask in the reflected glory of Professor Williamson's award.
Earlier this morning, at a press conference, Professor Williamson was asked what this prize meant for Berkeley, given the difficult budgetary challenges that we are facing. Commenting on Berkeley's commitment to excellence across the length and breadth of the campus and its palpable energy for creating a richly collaborative intellectual environment, Professor Williamson replied that our campus is incredibly resilient, that it has faced many challenges in the last 50 years, and that with all the good will and resources on our campus, he was confident that we would survive this crisis. He emphasized that it was the duty of all of us to work together and of our legislature in Sacramento to support the university and not to squander this precious resource. In a tribute to his colleagues and to the many graduate students whom he has taught and mentored, Professor Williamson modestly indicated that "some wonderful people are coming along and there are more prospects for Nobels ahead."
I thank Professor Williamson for his insightful remarks and for reminding us not to become too discouraged by short-term challenges. Today's Nobel Prize is clear evidence that Berkeley's excellence is recognized around the world. It is a part of our DNA that will not be changed and will be preserved for future generations.
Giải nobel năm nay thật bất ngờ, giải nobel hoà bình cho obama trong khi bác này chưa có một đóng góp gì, giải kinh tế thì thì trao cho hai người ko theo dòng kinh tế chính thức.
[Only registered and activated users can see links. ]
Các công trình của Williamson và Ostrom ít liên quan trực tiếp với nhau nhưng cùng nhấn mạnh rằng thị trường không phải là tất cả, không phải là liều thuốc vạn năng giải quyết được tất cả các vấn đề. Đây cũng là một lời nhắc nhở cho nhiều nhà kinh tế rằng vấn đề trọng tâm của kinh tế học không phải là thị trường mà là phân bổ nguồn lực. Thị trường xuất hiện bởi nó có thể giải quyết một số vấn đề phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn các phương án khác nhưng nó không phải luôn là phương án duy nhất hay tốt nhất.
Trong một số trường hợp, các hình thức thể chế khác như tổ chức hãng (đóng góp của Willamson) hay sự tự quản lý nguồn lực chung của người sử dụng tài nguyên (đóng góp của Ostrom) có thể là giải pháp hiệu quả hơn thị trường.
"...Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi những nhà kinh tế lỗi lạc như Paul Krugman (giải Nobel Kinh tế năm 2008) hay Steven D. Levitt (tác giả cuốn sách nổi tiếng Freakonomics) đều không biết đến Elinor Ostrom trước khi bà được giải. Thậm chí theo Steven D. Levitt thì có tới bốn phần năm các nhà kinh tế sẽ không biết Elinor Ostrom là ai, còn bản thân ông cũng chưa bao giờ nghe thấy một nhà kinh tế nào nhắc tới tên bà." [Only registered and activated users can see links. ]
Năm nay trường em có mổi Alumni này được Nobel mà có vẻ dìm hàng dữ quá. Thế các bác nghĩ là 2 bác trên kia không biết đến bà này thật hay chỉ nói vậy thôi? Mình nghĩ nói vậy cường điệu quá vì kinh tế nó cũng hàng trăm ngành, nghề, huớng khác nhau, ai mà biết tất cả người khác được, mặc dù họ cũng rất nổi tiếng. Em cũng hỏi là có bao nhiêu bác sĩ, bao nhiêu MD biết được mấy người Nobel Medicine kia?
Trường McGill chỗ mấy đứa bạn em năm nay được luôn 2 quả Alumni, kinh hồn thiệt trong khi trong lịch sử hơn 100 năm chì có 4 truớc giờ. Tụi nó đang khoái chí.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Bản thân bà Elinor Ostrom cũng là người khá xa lạ với giới kinh tế học. Bà là nhà khoa học chính trị, nhận bằng Đại học và bằng Tiến sĩ về khoa học chính trị ở Đại học California tại Los Angeles và giảng dạy khoa học chính trị. Tuy viết rất nhiều sách và bài viết chuyên môn trên tạp chí nhưng bà gần như không có bài viết nào đăng trên các tạp chí đầu ngành về kinh tế (tuy có rất nhiều bài viết trên các tạp chí khoa học chính trị và kinh tế tài nguyên - môi trường).
Dĩ nhiên là mình hiều cái ý đó bởi vì bà không làm cái hướng nghiên cứu đó thì làm sao mà publish được những bài báo hàng đấu được. Am I right? Bả publish những bài báo hàng đầu trong ngành của bà là được rồi, đúng không nhỉ? Google scholar của bà này thì rõ ràng bà là trùm trong lĩnh vực bả rối.
[Only registered and activated users can see links. ]
Mình nghĩ Nobel Econ cũng như Nobel Physics, bây giờ Nobel Physics cũng trao giải cho nhiếu người cũng làm application, cũng là engineer, chứ có phải ai cũng nghiên cứu lý thuyết, condensed matters quái quỉ gì đâu. Như A Witten hay S Hawking lại lên blog viết là Nobel Physics năm nay chắng có bài báo nổi bật nào trong tạp chí Phys letters gì gì đấy thì cũng đúng nhưng đâu thể nói vậy được, đúng không? Hawking bảo là trong đám physicists bạn tao chẳng ai biết đến mấy ông này thì chắc cũng đúng. Hehe.
Econ Sciences Nobel prize chứ đâu phải là (Micro, Macro) Econ Theory Nobel Prize đâu. Dĩ nhiên là dân trùm làm micro, macro-econ toàn nhưng người cao siêu, đầu óc, toán tủng khủng khiếp nhưng đâu có nghĩa là nhửng người làm hướng khác không xừng đáng được Nobel, mặc dù họ là trùm trong lĩnh vực của họ. Đấy là lý do tại sao mình thấy mấy articles của mấy bác kia có vẻ unfair.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
thay đổi nội dung bởi: Kev, 10-17-2009 lúc 05:18 PM
Việc bà Elinor Ostrom được nhận giải được người ta ví như một hướng đi mới trong kinh tế quản lý. Em rất tò mò về cái lý thuyết quản lí tài nguyên chung của ba này. Có bác nào học kinh tế chính trị ko? vào thảo luận nhé.
Đọc kỹ lại có vể quản lý theo kiểu TM của Phdvn sẽ là danh giới giữa quản lý TN chung và các cách quản lý classic của các forum khác. Sao chúng ta ko đề cử giải nobel nhỉ .
-----------------------
Vấn đề:
Vấn đề trọng tâm của kinh tế học không phải là thị trường mà là phân bổ nguồn lực. Thị trường xuất hiện bởi nó có thể giải quyết một số vấn đề phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn các phương án khác nhưng nó không phải luôn là phương án duy nhất hay tốt nhất.
Giải pháp:
Căn cứ vào rất nhiều nghiên cứu về quản lý tài nguyên, Elinor Ostrom nhận thấy việc quản lý tài nguyên chung của cộng đồng thường được thực hiện rất tốt. Do vậy, bà đề xuất giải pháp thứ ba: đó là giữ nguyên tính chất "của chung" của tài nguyên và để người sử dụng tự tạo ra hình thức quản lý phù hợp cho mình.
Một trong những phát hiện quan trọng của Ostrom là để cho việc quản lý tài nguyên chung hiệu quả, quá trình ra quyết định phải mang tính chất dân chủ, tức là đa số người sử dụng phải có quyền tác động tới việc điều chỉnh thay đổi quy định.
-------------------
Ostrom tìm hiểu về cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với các tài nguyên chung để tránh việc các tài nguyên này bị rơi vào tình trạng khai thác cạn kiệt.
Tài nguyên dùng chung (common-pool resources) là những tài nguyên mà nhiều người có thể sử dụng nhưng việc tiêu dùng của người này làm giảm khả năng tiêu dùng của người kia. Các ví dụ quen thuộc về tài nguyên này gồm có bãi cá, đồng cỏ, rừng nước cho thủy lợi. Ở quy mô lớn hơn, không khí và đại dương cũng là các tài nguyên chung.
Việc khai thác quá mức tài nguyên chung là hiện tượng thường thấy. Năm 1968, nhà sinh vật học Garrett Hardin nhận xét rằng hiện tượng khai thác quá mức tài nguyên chung đang tăng lên trên toàn cầu. Ông gọi nó bằng một cái tên bắt mắt là "Bi kịch của cái chung" (The Tragedy of the Commons).
Kinh tế học đưa ra hai phương án chủ yếu giải quyết vấn đề "bi kịch của cái chung" này. Phương án thứ nhất là tư nhân hóa. Lập luận đằng sau việc tư nhân hóa cho rằng bằng cách biến "cái chung" thành cái riêng và tăng cường hiệu lực thực thi quyền sở hữu, có thể tạo ra thị trường hiệu quả cho tài nguyên chung với mức giá phản ánh đúng giá trị của chúng với người sử dụng.
Phương án thứ hai là đánh thuế trên tài nguyên này, thường được gọi là thuế Pigou do được đề xuất bởi nhà kinh tế Pigou. Tuy nhiên, nhà kinh tế học Coase - người đưa ra lý thuyết về chi phí giao dịch - đã chứng minh rằng thuế Pigou chỉ có hiệu quả trong điều kiện thị trường hoàn hảo khi không có chi phí giao dịch. Trên thực tế, chi phí giao dịch đối với tài nguyên của chung là đáng kể khiến cho việc đánh thuế Pigou trở nên thiếu hiện thực và có tác dụng sai lệch.
Điểm chung của cả hai phương án này là áp dụng các quy định từ bên ngoài cộng đồng, thường do chính quyền trung ương tiến hành: hoặc dưới hình thức thuế hay hạn ngạch, hoặc bằng cách tư nhân hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp, cả hai phương án này đều thất bại.
Căn cứ vào rất nhiều nghiên cứu về quản lý tài nguyên, Elinor Ostrom nhận thấy việc quản lý tài nguyên chung của cộng đồng thường được thực hiện rất tốt. Do vậy, bà đề xuất giải pháp thứ ba: đó là giữ nguyên tính chất "của chung" của tài nguyên và để người sử dụng tự tạo ra hình thức quản lý phù hợp cho mình.
Bằng các kết quả nghiên cứu tại hiện trường ở Trung Quốc, Mông Cổ, Nepal và nhiều nước đang phát triển khác, Ostrom khẳng định không phải lúc nào cơ chế quản lý tài nguyên chung cũng là một "bi kịch". Trong nhiều trường hợp, các thể chế quản lý tài nguyên chung của cộng đồng tỏ ra hiệu quả và có tính bền vững.
Trái lại, nhiều quy định hạn chế sử dụng tài nguyên của chính phủ với mục đích bảo vệ các tài nguyên này lại trở thành phản tác dụng do chính quyền trung ương thiếu hiểu biết về hoàn cảnh cũng như tập quán của địa phương.
Một ví dụ là dân du mục sinh sống ở đồng cỏ ở Mông Cổ thường di chuyển đàn gia súc của mình từ bãi chăn thả này sang bãi chăn thả khác. Truyền thống này được thực hiện hàng ngàn năm cho tới khi chính phủ trung ương xây dựng các hợp tác xã tập thể và buộc người du cư phải sống định cư. Thế nhưng việc định cư này đã gây ra các hậu quả tai hại do những người chăn thả sẽ thả gia súc ở những bãi cố định, và làm cho các đồng cỏ quanh nơi họ sinh sống bị cạn kiệt.
Chính sách tư nhân hóa sau cải cách được áp dụng tại đây cũng mang lại các hậu quả về tài nguyên không kém phần bi kịch do chính sách này khuyến khích định cư và sở hữu tư nhân. Hậu quả là tài nguyên đất xuống cấp hơn nữa.
Đọc công trình nghiên cứu của Ostrom, người đọc có thể liên tưởng tới những kinh nghiệm quản lý tài nguyên rừng ở Tây Nguyên trước đây và hiện trạng đất rừng bị xói mòn ở Tây Nguyên hiện nay.
Tất nhiên, việc tự quản lý của cộng đồng không phải lúc nào cũng thành công. Có nhiều ví dụ cho thấy tư nhân hóa hay quy định của chính phủ mang lại các kết quả tốt hơn. Một trong những phát hiện quan trọng của Ostrom là để cho việc quản lý tài nguyên chung hiệu quả, quá trình ra quyết định phải mang tính chất dân chủ, tức là đa số người sử dụng phải có quyền tác động tới việc điều chỉnh thay đổi quy định. Chính quyền phải tôn trọng quyền của cộng đồng những người sử dụng tài nguyên. Thêm vào đó, việc giám sát và thực thi nên do những người sử dụng tự thực hiện thay vì do người bên ngoài.
Ở một khía cạnh khác liên quan tới phương pháp luận, Ostrom là người tiên phong trong việc sử dụng kết quả nghiên cứu hiện trường để đề ra lý thuyết kinh tế. Mặt khác, bà cũng rất coi trọng việc nghiên cứu hành vi con người trong các điều kiện thí nghiệm. Ở góc độ này, bà đã kết hợp giữa kinh tế học với tâm lý học, và tiếp nối truyền thống của nhà kinh tế được giải thưởng Nobel Vernon Smith.
thay đổi nội dung bởi: goahead, 10-18-2009 lúc 05:22 AM
Thiệt ra mình nghĩ Krugman hay Levitt nói không biết gì về Ostrom cũng không lạ vì trong kinh tế, các nghiên cứu của Ostrom thuộc New Institutional Economics mà cái này không phải là mainstream. Nhưng nếu nói không ai biết Ostrom là ai thì không đúng, nếu đem đi hỏi các economists theo NIE thì gần như ai cũng biết các nghiên cứu của Ostrom cả.
Theo mình thì nghiên cứu của Ostrom không hẳn là nghiên cứu về lý thuyết quản lý chung, mà là về việc hình thành, thay đổi và ảnh hưởng của thể chế để tạo ra collective action và giải quyết vấn đề tài nguyên dùng chung. Ostrom nghiên cứu rất nhiều case studies khác nhau và chỉ ra rằng thể chế quản lý chung do cộng đồng tự xây dựng (dựa vào nhiều cái khác nhau chứ không chỉ dựa vào quyết định dân chủ, nhưng quyết định dân chủ là 1 pp chủ yếu) trong nhiều trường hợp đạt hiệu quả. Nhưng cũng có các TH thể chế dạng này thất bại hoặc vì 1 lý do nào đó mà các thể chế loại này phải thay đổi (VD như do sự phát triển của công nghệ). Công trình của Ostrom bao gồm hết tất cả các chủ đề này và đa số dùng case studies, rất ít toán (dễ đọc cho những người dốt toán như mình hehe).
Việc trao giải cho Ostrom thì các kinh tế gia xôn xao cũng đúng vì Nobel Econ mà trao cho nữ mà lại ngoài ngành (hehe) trong khi có nhiều tên tuổi lớn của economics chính thống đang chờ lâu rồi. Ngay cả trong NIE thì cũng có ý kiến vì cho rằng nghiên cứu của Ostrom không đi vào bản chất của vấn đề. Nhưng mình thấy trong khi economics còn chưa có 1 sự đột phá thì trao cho ai cũng sẽ có cự cãi thôi mà các công trình của Ostrom trong NIE đều rất có ý nghĩa đối với environmental and resource economics/institutional economics.
Bà ấy không biết gì về kinh tế cả, không có khả năng đọc các paper về kinh tế.
Còn nói rằng các economist NIE biết bà ấy thì luyên thuyên.
Bà ấy quen biết, lobby được nhiều tiền. Có vậy thôi. Cái dở của empirical studies của political sciences là ở chỗ nhờ quen biết lobby được 1 đống tiền, xong rồi nghiên cứu rồi nhận giải thưởng. Bản thân các nghiên cứu đấy không có gì khó, không đòi hỏi năng lực gì đặc biệt.
Chính vì thế, rất nhiều người phàn nàn vì chuyện không công bằng trong việc phân phối funding. Không phải bà ấy mà là người khác được cấp fund thì cũng có thể ra được các kết quả nghiên cứu đấy. Không có 1 tí sáng tạo nào về technical cả.
Bản chất cũng giống như tranh giành quyền lực. Một chú đấu đá đạp tất cả các chú khác xuống bằng những cách phi khoa học rồi nhảy lên ghế quyền lực to tướng. Thế rồi dân làm chính trị xúm vào khen chú ấy giỏi về chuyên môn, nghe có được hay không???
Thông thường bên kinh tế ít trao giải Nobel cho các nghiên cứu empirical là vì lẽ đấy. Độ khó không cao. Trao giải cho 1 người không phải vì người ấy tài năng kiệt xuất mà chỉ vì người ấy may mắn rơi vào chỗ tốt, nhận được nhiều funding để làm empirical thì sẽ không công bằng. Mặc dù các nghiên cứu empirical của kinh tế còn áp dụng nhiều kỹ thuật phức tạp hơn của bà ấy.
Lâu nay Public affair không có giải Nobel. Trao giải cho 1 đại diện của ngành đấy thì cũng được thôi, nhưng xét về mặt khám phá với đóng góp cho thế giới thì không được công bằng cho lắm. Đáng lẽ ra không nên gọi Nobel về kinh tế mà nên gọi đúng tên Nobel về Khoa học chính trị.
PS: các bác nên biết 1 trong các tiêu chí quan trọng nhất để được nhận làm prof về public affair là khả năng xin fund. Trong khi tuyển prof ngành Econ không có tiêu chí nào như thế cả.
__________________ Thực ra thì tôi cũng không chắc, thế giới xung quanh tôi có tồn tại thật hay không.
thay đổi nội dung bởi: Jenny, 03-15-2010 lúc 08:34 PM