Một trong những vấn đề tôi quan tâm hiện nay là physical Economics, một lãnh vực đan xen giữa một cái thuần tuý xã hội, và một cái thuần tuý KHTN. That sounds amazing, doesn't it?
Khích lệ đầu tiên của tôi tìm hiểu lý thuyết này đó là mấy lần dating với mấy em PhD chuyên ngành kinh tế, khi cả hai đã chán nói chuyện âm nhạc, nghệ thuật thì đành chuyển sang nghiên cứu, và tôi không ngờ đây là một đề tài thú vị như vậy. Lúc đó tôi thấy các ý tưởng như quantization of phase space, dynamical system, QFT, Noncommutative Geometry,statitical Mechanic có thể được dùng để hiểu lý thuyết kinh tế. Hôm nay tình cờ đọc được một bài viết về vấn đề này của Nguyễn Quang A, tôi tình cờ nhớ đến (các) em da diết. I miss you
__________________________________________________ ________
Vật lý học kinh tế và khủng hoảng hiện thời
Lao Động Cuối tuần số 23 Ngày 07/06/2009 Cập nhật: 7:27 AM, 07/06/2009
(LĐCT) - Kinh tế học được coi là một ngành khoa học xã hội, vật lý học là một ngành khoa học tự nhiên. Vật lý học kinh tế [xã hội] (econophysics [sociophysics]) dùng các công cụ và phương pháp của vật lý học để phân tích các vấn đề kinh tế [xã hội] và mới có sự phát triển mạnh mẽ khoảng 10-15 năm nay.
Kinh tế học hiện đại thực ra cũng bắt đầu với việc bắt chước cơ học Newton. Lý thuyết cân bằng tổng quát, cái lõi của kinh tế học dòng chủ lưu hiện nay, dựa vào khái niệm cân bằng cơ học.
Nét nổi bật của các hệ thống lớn, phức tạp là chúng gồm một số lượng rất nhiều (nhưng hữu hạn) các phần tử tương tác với nhau. Các phần tử thường có thể phân thành các loại khác nhau, thường không cố định hay biết trước. Hệ sinh thái, xã hội, nền kinh tế, mạng Internet, v.v... là các hệ thống như vậy. Đó có thể là các hệ thống tự nhiên hay nhân tạo.
Các công cụ và phương pháp của vật lý học thống kê, vật lý học lượng tử, lý thuyết mạng, lý thuyết thông tin, khoa học máy tính ngày càng được sử dụng để phân tích các hệ thống phức tạp và hình thành một ngành khoa học về các hệ thống phức tạp.
Các hệ thống phức tạp có nhiều đặc tính không thể suy ra từ tính chất của các phần tử thành phần. Một trong những đặc điểm như vậy là hiện tượng chuyển pha khá quen thuộc trong vật lý học. Thí dụ, một lượng nước nhất định có thể được coi như một hệ thống phức tạp gồm hàng tỉ phân tử nước (đồng nhất về mặt hoá chất) tương tác với nhau.
Sự chuyển động của các phân tử nước xác định nhiệt độ của nó. Khi nhiệt độ giảm quá một ngưỡng nhất định nước biến thành băng với nhiều tính chất vật lý khác hẳn với nước ở thể lỏng hay thể hơi. Đấy là một sự chuyển pha. Hiện tượng chuyển pha cũng thường xuất hiện ở các hệ thống phức tạp khác.
Các giáo sư M. Aoki và H. Yoshikawa đã phát triển một lý thuyết mới về kinh tế học vĩ mô dựa trên các phương pháp của vật lý học thống kê và các quá trình ngẫu nhiên trong cuốn sách xuất bản năm 2007 của họ. Một điểm lý thú là các ông thấy tổng cầu tương ứng như nhiệt độ trong vật lý học. Khi nền kinh tế kém sôi động người ta thường dùng cách "kích cầu" để hâm nóng hoạt động kinh tế lên.
Nền kinh tế, xét như một hệ thống phức tạp, có thể lật trạng thái, "chuyển pha" sang trạng thái khác. Quá trình chuyển pha như vậy có thể là một cuộc khủng hoảng. Xem xét nền kinh tế dưới các góc độ khác nhau với cái nhìn liên ngành có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về hoạt động của nó. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay cũng có thể được coi như một sự chuyển pha như vậy. Cái gì đã kích gây ra sự chuyển pha này?
Người ta bàn nhiều về những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Cuộc khủng hoảng bắt đầu trong nền kinh tế tiền tệ tài chính, rồi lan sang nền kinh tế thực.
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính được cho là do sự tham lam của các nhà tư bản tài chính, sự bành trướng tín dụng, sự cẩu thả của các tổ chức xếp hạng, đến những thiếu sót của hệ thống điều tiết.
Một số nhà khoa học cho rằng những thiếu sót căn bản của các mô hình rủi ro được các tổ chức tài chính sử dụng rộng rãi, được các công ty tin học thực hiện bằng các phần mềm tinh vi hay các dịch vụ thuê ngoài, (và đáng tiếc về cơ bản) được quy định bởi các quy chế (từ Basel II trên phạm vi quốc tế, quy định của các nhà điều tiết quốc gia, đến quy định của mỗi tổ chức tài chính ngân hàng).
Chính những thiếu sót căn bản mang tính hệ thống do con người tạo ra này đã trực tiếp ảnh hưởng hay chi phối ứng xử của những người tham gia trong hệ thống tài chính toàn cầu, một hệ thống phức tạp.
Và cấu trúc, tôpô của hệ thống mạng phức tạp này, cùng với ứng xử tập thể của những người tham gia, các thành tố của hệ thống, đã đẩy hệ thống lật sang trạng thái đóng băng thanh khoản, đóng băng tín dụng, khuếch đại sự hoảng loạn và gây ra khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Cơ chế chuyển trạng thái này của hệ thống khá giống hiện tượng chuyển pha của các hệ thống phức tạp khác trong vật lý. Thí dụ, đó là chuyển pha của hệ thống gồm các phần tử từ có mômen từ lộn xộn sang trạng thái mômen từ chỉ theo cùng một hướng (tạo ra nam châm); các electron được bơm lên một mức năng lượng cao và đồng loạt bị kích nhảy xuống mức năng lượng thấp hơn (tạo ra laser); hay hệ thống gồm các hạt Boson, hay các cặp hạt Fermion, chuyển sang trạng thái ngưng tụ (Bose-Einstein condensate); v.v...
Nói cách khác các hiện tượng này có thể được mô tả bằng các công cụ toán học giống nhau. Đấy là một trong những tính chất vốn có, cố hữu của một số hệ thống phức tạp.
Làm sao để tránh những sự chuyển pha, "khủng hoảng" như vậy? Mạng các hệ thống tài chính cũng có nét tương tự như mạng Internet hay mạng lây lan của các dịch bệnh. Các điểm nút lớn (có nhiều kết nối), các hub (những người bệnh có khả năng lây lan cao, các nút giao thông và những chỗ đông người) là những nơi đặc biệt cần chú ý. Đáng tiếc trong khoảng 10 năm qua các nhà chức trách lại nới lỏng kiểm soát đối với chính các hub tài chính lớn này.
Có lẽ các nhà điều tiết ngân hàng tài chính có thể học nhiều từ kinh nghiệm phòng và chống dịch (đang được tiến hành rất khẩn trương với dịch cúm A H1N1 hiện nay hay SARS vài năm trước đây).
Nhìn hệ thống tài chính như một mạng phức tạp, dùng những công cụ và kết quả nghiên cứu mới đây về các hệ thống phức tạp có thể giúp chúng ta hiểu kỹ hơn các đặc điểm, trong đó có tính bất ổn cố hữu có thể dẫn đến khủng hoảng, của hệ thống tài chính, có thể giúp chúng ta nhìn sâu hơn vào những vấn đề hiện nay cũng như những khủng hoảng tương lai mà chúng ta nhất thiết phải đối mặt.
Đọc tiếng Việt không hiểu gì hết . Hình như có liên quan đến complex systems. Mà đúng thì trên thực tế cái gì cũng là complex systems nên đọc qua thì thấy hướng nghiên cứu này model các nền kinh tế như là complex systems rồi dùng kết quả về complex systems để giải thích.
__________________ 124 điểm. To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
Vậy mời đọc Wiki [Only registered and activated users can see links. ]
Econophysics is an interdisciplinary research field, applying theories and methods originally developed by physicists in order to solve problems in economics, usually those including uncertainty or stochastic processes and nonlinear dynamics. Its application to the study of financial markets has also been termed statistical finance referring to its roots in statistical physics. Physicists’ interest in the social sciences is not new, Daniel Bernoulli, as an example, was the originator of utility-based preferences. One of the founders of neoclassical economic theory, former Yale University Professor of Economics Irving Fisher, was originally trained under the renowned Yale physicist, Josiah Willard Gibbs.[1]
Tôi thấy ở UT Houston có một nhóm khá mạnh về lãnh vực này:
[Only registered and activated users can see links. ]
Có một bài tổng quan về lãnh vực này, do một ông ở IAS viết. [Only registered and activated users can see links. ]
Và có cả forum mới kinh. [Only registered and activated users can see links. ]
Tôi đang đọc qua bài này. Thú thực khá là bất ngờ, khi mà một số ý tưởng tôi nảy ra khi date với em NCS ngành economics người trung quốc cách đây 3 năm lại xuất hiện ở đây. Chúng tôi định có một joint paper cơ, nhưng mà relationship chả đi đến đâu. Tiếc thế. [Only registered and activated users can see links. ]
Một cậu NCS chỗ tôi đang cố gắng develop Economical Quantum Field Theory.
I would like to invite all the members having background in Economics, Statistics, Mathematics, Quantum Physics, Statistical Mechanics, Nuclear Physics, Mathematical Quantization .., to discuss about that interdisciplinary area này.
Ồ cái này hay quá. Mấy bữa nay lo applications quá chưa vào đọc. Ông Gibbs hình như có đóng góp rất lớn vào probability, đặc biệt là Gibbs measure thì phải. Tiếc quá, giờ trình còn còi nên chủ yếu là lắng nghe thôi quá . Để xmas này xong mấy cái applications rồi ngồi nghiên cứu cái này với anh WB, hehe.
thay đổi nội dung bởi: seaboy, 11-30-2009 lúc 11:15 AM
Bên kinh tế có rất nhiều bác ở bên toán nhảy sang lập các mô hình và lý thuyết mới và rất thành công. Ví dụ các bác Nash, Aumann...là các nhà toán học. Bác Barro trước là học trò của Feynman.
Lý thuyết cân bằng chung thì đúng là bên kinh tế cũng lấy khái niệm của bên vật lý. Nhưng định nghĩa general equilibrium của kinh tế vẫn khác với bên vật lý. (Khác thế nào thì mình không rõ lắm vì chưa có thời gian nghiên cứu. Chỉ nghe nói là khác.) Sinh viên Econ đều phải học về dynamic system, phương trình Bellman, Hamilton...này nọ. Nhưng có vẻ như công cuộc khai thác đã hoàn tất rồi nên hiện nay ít ai nhắc đến việc ứng dụng các khái niệm của vật lý nữa.
Bên tài chính có phần stochastic process, liên quan đến không gian Hilbert này nọ là phần rất quan trọng và bất kỳ sinh viên tài chính nào cũng phải học. Nhưng nghiên cứu Finance, thì theo như Stanford chia làm hai mảng chính: Access Pricing và Corporate Finance. Thường thì các bạn nào nghiên cứu về AP (bao gồm giá cả nói chung, giá cổ phiểu, chứng khoán v.v...) ở các trường lớn thì mới có khái niệm về mối liên hệ đa ngành với stat và pure physics.
Còn các bạn làm về CF thì chả biết gì đâu. Các bạn này mình thấy tư duy hơi giống dân MBA. Đa số các khoa của các trường Ivy đều chú trọng nghiên cứu về AP, và có vẻ ưu tiên sinh viên PhD làm về AP hơn. Trong khi đấy các trường rank dưới làm CF nhiều hơn. Các khoa Econ cũng phải học về AP, nhưng thường chỉ một số rất ít bạn làm về financial Econ mới đi sâu và hiểu về những thứ đấy. Không phải bạn nào làm về Financial Econ đều từng biết về Physics Econ đâu.
Thực ra mối quan hệ giữa AP và stat rõ ràng hơn, còn với Physics thì không rõ mấy. Như Bear nói là có mỗi trường UH nghiên cứu. UH thực ra đâu phải là trường ranking cao về Econ. Chị chả tin lắm có chú big professor nào ngồi ở đấy cả. Có thể khoa Physics ở UH tốt, thì các bác ở hai khoa đấy joint với nhau làm nghiên cứu thôi.
Có vẻ như là dân kinh tế vẫn chưa thấy có nhiều mối liên hệ giữa các lý thuyết vật lý với tài chính cho nên không triển khai hướng này. Thông thường thì bất kỳ hướng nào có tương lai, các trường Ivy đều có professor nghiên cứu.
Thực ra điều này cũng dễ hiểu. Bởi vì các quy luật vật lý là objective, không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Bình thường các chú không thể điều khiển các quasa hay quact chuyển động theo hướng nào, đúng không? Nhưng các quy luật của Econ là subjective, phụ thuộc vào những thứ xảy ra trong óc của các cá nhân trong xã hội. Mà từng cá nhân trong xã hội thì lại bị ảnh hưởng lớn bởi các quy luật xã hội và chính quyền rất dễ tác động vào các quy luật ấy.
Quy luật xã hội chi phối ngành Econ mạnh hơn quy luật tự nhiên.
Bác Quang A tự đọc thôi. Chị nghĩ là bác không biết ngành nào là hot, hướng nào có tương lai trong kinh tế đâu.
__________________ Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
thay đổi nội dung bởi: nkd, 11-30-2009 lúc 08:29 PM
Vật lý thì mình không rõ lắm, bởi vì kiến thức vật lý của mình chỉ dừng ở mức phổ thông. Tuy nhiên nghiên cứu tương tác giữa các agents trong một hệ thống lớn, giữa ngành CS và Econ có điểm khác biệt quan trọng. Đấy là độ heterogenous giữa các phần tử.
Lấy ví dụ, nghiên cứu về giao dịch E-commerce của CS. Họ cũng gọi Internet là marketplace nơi mà các agent trao đổi với nhau. Tuy nhiên ban đầu họ giả thiết là tất cả các agent có độ homogenous cao, có rất nhiều đặc tính giống nhau. Họ bắt tất cả các Internet user phải tuân theo một số protocol đơn giản nhất định để tham gia giao dịch. Chính vì các agent có độ homogenous cao cho nên họ có thể ứng dụng nhiều kết quả nghiên cứu của toán học hiện đại. Sau đó họ tăng dần cấp độ heterogenous lên để marketplace phù hợp dần với thực tế.
Econ thì khác. Họ xem xét marketplace với dạng thực, có nghĩa là các agent có độ heterogenous rất cao, và họ cố gắng tìm hiểu các quy luật của đám agent hổ lốn ấy. Chính vì độ heterogenous quá lớn nên muốn áp dụng nhiều kết quả nghiên cứu của pure math hơn cũng khó. Chỉ có thể tìm được quy luật của từng nhóm nhỏ agent, có cùng một số đặc tính thôi. Càng cố gắng tổng quát hoá thì độ chính xác càng giảm.
Đại thể nghiên cứu về xã hội, độ chính xác giảm theo mức độ tổng quát của quy luật.
Đấy là lý do các bạn CS cứ thắc mắc tại sao kết quả nghiên cứu của kinh tế chẳng chính xác gì mấy. Bên CS thì byte nào mà chả giống byte nào. Không giải quyết được các bài toán phức tạp thì các bạn ấy censor béng đầu vào để cho Input phải theo cùng 1 kiểu các bạn ấy có thể giải quyết được mà thôi.
__________________ Các triết gia chân chính thuộc về một chủng tộc đặc biệt. Họ sống trong một thế giới khác.
thay đổi nội dung bởi: nkd, 11-30-2009 lúc 08:12 PM
Hì hì, từ vật lý đến kinh tế cũng không xa lắm so với đến triết học, bởi vì dao động, chuyển pha, lập cân bằng mới ..etc. là những quy luật được biết đến từ lâu trong thuyết Âm Dương hay chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tuy nhiên, để ứng dụng vào kinh tế thì có một vấn đề nghiêm trọng, đó là lực cản của các nhóm quyền lợi và định chế cố hữu. Vắn tắt là cho dù biết rằng cần phải cách tân theo những chỉ dẫn khoa học, nhưng những trung tâm quyền lực lại không muốn và cũng không dễ dàng thay đổi, bởi vì cái gọi là quán tính của hệ thống (system inertia). Vì vậy những đổ vỡ xảy ra theo "định mệnh" và khi đó người ta mới lại đi tìm một cấu trúc mới.
Như vậy, có hai con đường để vật lý có thể xâm nhập vào kinh tế học: một là xây dựng mô hình và dự báo, hai là thiết kế giải pháp cho hệ thống. Cả hai con đường đều phải lội qua khá nhiều mớ hỗn độn mà đáng kể nhất là việc thiết lập các tham số tính toán cho sự vận hành của các hub / định chế.
Nhìn chung, bác nào muốn nhào vô thì phải đếm số nếp nhăn trên trán + vòng tay êm ái của sếp lớn cỡ bộ trưởng trở lên mới có cơ hội cao.
Chú Skywalker phát biểu như vậy là không hiểu gì về nghiên cứu kinh tế học hiện đại rồi. Kinh tế khác tất cả các ngành xã hội khác ở chỗ, ấn tượng đầu tiên về TẤT CẢ các professor kinh tế ở các trường đại học có uy tín, là những người giỏi toán, trong khi đa số giáo sư của các ngành xã hội khác là những người giỏi về lập luận, lý sự và hiểu biết rộng.
Đào tạo nghiên cứu viên về kinh tế thực tế không phải để làm việc ở worlbank hay IMF. (Đấy là công việc dành cho ngành Public Policy.) Các bài báo kinh tế, kinh doanh đầy rẫy ở các sạp báo cho độc giả một ấn tượng rất sai lầm về nghiên cứu kinh tế hiện đại.
Chú đọc bài này để thấy rằng các giáo sư kinh tế tư vấn cho sinh viên khuyên rằng, nếu không có năng khiếu toán/background toán tốt thì đừng lao vào nghiên cứu kinh tế, bởi vì sẽ không đạt được cái gì.
[Only registered and activated users can see links. ]
"The fact is, if you are thinking about a PhD program in economics, you are advised to take math courses until it hurts."
Bài này khuyên những người vẫn thích kinh tế nhưng bad math thì nên đi học luật và nghiên cứu luật kinh tế. [Only registered and activated users can see links. ]
Đáng lẽ ra kinh tế hiện nay phải gọi là economic engineering mới đúng bởi vì cách nghiên cứu và tiếp cận không khác gì các ngành engineering. Rất coi trọng phần định lượng và độ chính xác. Chính vì tư duy của các professor đầu ngành kinh tế giống hệt với các professor toán (Nhiều người như Nash, Aumann...là các nhà toán học danh tiếng) cho nên không có lý gì cho rằng các trung tâm quyền lực ngành kinh tế cản trở ứng dụng toán học hay vật lý vì nồi cơm của họ.
Thực ra khái niệm general equilibrium là rập khuôn từ vật lý sang. Chẳng qua người ta không nghĩ ra được nhiều ứng dụng các mô hình vật lý một cách có hiệu quả thôi.
Không thể so sánh kinh tế với triết học được bởi vì phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác.
PS: Ngay cả so sánh thuyết âm dương, quy luật duy vật biện chứng với các quy luật vật lý đã chứng tỏ sự thiển cận, chẳng khác nào nói cái bàn với cái ô tô giống nhau, bởi vì đều có 4 chân.
Sự khác biệt lớn giữa cái trước với cái sau là ở độ phức tạp của học thuyết.
__________________ Thực ra thì tôi cũng không chắc, thế giới xung quanh tôi có tồn tại thật hay không.
thay đổi nội dung bởi: Jenny, 01-27-2010 lúc 11:18 AM